Khi thủy điện xả lũ...
Khoảng 10 giờ đêm 31.7.2025, anh Đường Văn Năm ở bản Pá Vạt (xã Mường Luân, Điện Biên) nghe một tiếng nổ vang như sấm. Nhìn lên, anh thấy cả quả đồi bên trên sạt xuống dòng sông Mã. “Nước lũ lúc đó lên rất nhanh vì mưa lớn, nghe nói thủy điện đang xả lũ", anh kể.
Không ai trong bản dám chợp mắt, người dân thay nhau canh con nước đang cuồn cuộn chảy. Đến gần 4 giờ sáng 1.8, nước bắt đầu tràn lên đường rồi ập vào nhà. Điện mất, tiếng gọi nhau chạy lũ vang khắp bản trong bóng tối mịt mùng. "Lúc đó chỉ nghĩ làm sao giữ được mạng sống", anh Năm nhớ lại.
May mắn, trận lũ bất ngờ không cướp đi người dân nào của bản. Nhưng khi nước rút, cả bản Pá Vạt ngập trong bùn đất, đổ nát. 4 căn nhà bị cuốn trôi hoàn toàn, 9 căn khác nằm trong vùng nguy cơ sạt lở, tài sản tích cóp cả đời của hàng chục hộ dân bị nước lũ nhấn chìm. Sân bóng chung của bản được nhà nước đầu tư gần 1 tỉ đồng cũng trở thành lòng sông sau lũ.






Bản Pá Vạt tan hoang sau trận lũ lịch sử đêm ngày 31.7, sáng ngày 1.8.2025, nhiều tài sản tích cóp cả đời của người dân bị lũ cuốn trôi
ẢNH: ĐÌNH HUY
Bản Pá Vạt có hơn 200 hộ dân, nằm ngay dưới chân nhà máy thủy điện Sông Mã 3. Trong suy nghĩ của nhiều người dân trong bản, từ khi thủy điện được xây dựng ở thượng lưu, dòng chảy sông Mã đã thay đổi hẳn, lũ lên là chảy thẳng vào bản. Thủy điện thông báo xả lũ là khi lũ về.
Nhưng trong trận lũ đêm 31.7, rạng sáng 1.8, theo Trưởng bản Pá Vạt Lò Văn Ư, người dân trong bản đã không nhận được thông báo về việc thủy điện xả lũ. Thấy nước lũ lên, người dân chỉ đoán chừng thủy điện xả lũ, rồi lo lắng vỡ đập. Đến khi nước lũ tràn vào bản thì hò nhau chạy.
Ông Phạm Hồng Thủy, Phó giám đốc Công ty CP Đầu tư - xây dựng Đông Á (chủ đầu tư nhà máy thủy điện Sông Mã 3), khẳng định, thông báo dự kiến xả lũ đã được gửi tới UBND tỉnh, 2 xã và 2 nhà máy thủy điện phía hạ du từ ngày 20.7, vẫn còn hiệu lực vào thời điểm 1.8.
"Từ ngày 21.7, nhà máy vẫn xả bình thường, tùy theo lượng nước về hồ", ông Thủy nói. Từ 5 giờ sáng 1.8, mưa lớn cục bộ khiến nước về hồ thủy điện dâng cao, buộc nhà máy phải tăng lưu lượng xả lên tới 1.700 m3/s. "Nếu không xả kịp sẽ vỡ đập", ông Thủy nhấn mạnh, khẳng định nguyên nhân là do mưa quá lớn và nhà máy đã làm đúng quy trình.
Với hơn 600 hồ thủy điện lớn nhỏ trên cả nước, những câu chuyện như ở Pá Vạt không phải cá biệt. Từ lâu, thủy điện luôn là điểm nóng của tranh luận và chỉ trích mỗi mùa mưa lũ.
Cách bản Pá Vạt hơn 1.600 km, đợt mưa tại tỉnh Đắk Lắk từ ngày 16 - 21.11.2025 đẩy đỉnh lũ vượt mọi cực trị trong khoảng 50 năm, nhấn chìm nhiều xã ở khu vực hạ du Phú Yên cũ trong biển nước. Trận lũ lịch sử khiến 113 người tử vong, thiệt hại tới 7.000 tỉ đồng. Tang thương, mất mát chưa từng có về người và của đã đẩy nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ vào tâm điểm của chỉ trích khi thủy điện xả lũ vượt mức lịch sử 16.100 m3/s vào ngày 19.11.
Với mức xả lũ chưa từng có kể từ khi vận hành năm 2009, nhà máy thủy điện ở bậc thang cuối cùng phía thượng nguồn trước khi sông Ba đổ ra đồng bằng Tuy Hòa được cho là nguyên nhân gây ra “lũ chồng lũ”, dẫn tới hậu quả nặng nề cho khu vực hạ du.
Trả lời báo chí thời điểm đó, lãnh đạo nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ khẳng định: “mức xả 16.100 m3/s vượt lịch sử, nhưng đúng quy trình được duyệt. Nếu không xả, hồ chứa có nguy cơ vượt giới hạn kỹ thuật, gây hậu quả nghiêm trọng cho cả thượng lưu lẫn hạ du”. Cơ quan công an sau đó đã làm việc với nhà máy thủy điện về việc vận hành xả lũ song tới nay, vẫn chưa có kết luận nào về vi phạm được đưa ra.
Việc xả lũ ở mức kỷ lục 16.100 m3/s - tương đương lượng nước lũ về hồ vào chiều 19.11.2025, đã khiến thủy điện Sông Ba Hạ trở thành tâm điểm của chỉ trích.
ẢNH: ĐỨC HUY
Thực tế, theo nhiều chuyên gia, thủy điện không sinh ra lũ. Ngược lại, trong suốt nhiều năm, các hồ chứa thủy điện lớn đã tham gia cắt, giảm lũ thông qua cơ chế giữ lại một phần nước lũ trong lòng hồ, làm chậm và làm thấp đỉnh lũ về hạ du. Trong quy trình vận hành, các hồ thủy điện trên các hệ thống sông lớn trên cả nước, từ sông Hồng, sông Mã ở phía bắc cho tới sông Đồng Nai ở phía nam,… đều có dung tích dành cho giảm lũ hạ du, bên cạnh nhiệm vụ phát điện.
Theo TS Nguyễn Huy Hoạch, thực tế vận hành trong nhiều năm cho thấy, trong các trận lũ lớn, nếu không có các hồ chứa thủy điện, mực nước và lưu lượng lũ ở hạ du sẽ cao hơn đáng kể. Trong nhiều đợt lũ lớn, đặc biệt là các trận lũ lịch sử trên sông Đà, hệ thống này đã giữ lại một lượng nước khổng lồ, giảm lượng nước lũ đổ về hạ du.
“Khi mưa lớn gây ngập lụt ở hạ du, khi thiệt hại về tài sản và con người, phản xạ phổ biến của dư luận là đặt câu hỏi: ‘Có phải do thủy điện xả lũ?’. Ít khi người ta hỏi ngược lại: ‘Nếu không có các hồ thủy điện đó, mức nước hạ du sẽ cao đến đâu?’”, TS Nguyễn Huy Hoạch, chuyên gia Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, nói.
Ngay nhà máy thủy điện sông Ba Hạ, dù trong thiết kế ban đầu cũng không có dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du như hầu hết các hồ chứa thủy điện khu vực miền Trung, song trong quy trình vận hành, hồ thủy điện Ba Hạ vẫn có nhiệm vụ điều tiết lũ. Dung tích điều tiết lũ tối đa của thủy điện sông Ba Hạ là 165,9 triệu m3, khi hạ mực nước hồ về mực nước chết (101 m). Trong đợt lũ lịch sử cuối tháng 11.2025, trong hai lần cắt lũ vào các ngày 18 - 19.11, hồ chứa thủy điện đã lần lượt giảm cho hạ du 93 triệu m3 và 64 triệu m3 nước.
Nếu các nhà máy thủy điện đều vận hành đúng quy trình, thậm chí đã góp phần cắt, giảm lũ cho hạ du, vậy điều gì đã gây ra hậu quả nặng nề cho người dân?
Nguồn cơn của lũ dữ
Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Trương Công Thái tại cuộc họp báo chiều 19.12.2025, cho biết, lượng mưa đổ xuống Đắk Lắk trong đợt lũ 16 - 21.11.2025 quá lớn. “Chỉ trong 2 ngày 18 - 19.11, lượng mưa cộng lại đã 1.800mm, bằng lưu lượng mưa 1 năm của Đắk Lắk cũ”, ông Thái nói.
Báo cáo chính thức của Cục Khí tượng thủy văn (Bộ NN-MT) cũng khẳng định, từ đêm 15 - 21.11.2025 khu vực nam Trung bộ đã phải đón nhận lượng mưa kỷ lục, nhiều nơi vượt trên 1.000 mm. Riêng phía Đông tỉnh Đắk Lắk (khu vực Phú Yên cũ), lượng mưa đạt tới 700 - 900 mm, có nơi trên 1.200 mm. Theo phân loại của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), đây là các sự kiện hiếm gặp, gần như không thể dự báo chính xác định lượng.
Cạnh đó, lượng mưa tích lũy từ tháng 10 đến giữa tháng 11 năm 2025 tại khu vực này đã cao hơn trung bình nhiều năm từ 120% - 200%, khiến đất bão hòa, mất khả năng tự thấm trước khi đợt mưa “trái mùa” ập đến. Theo tính toán Cục Khí tượng thủy văn, chỉ cần lượng mưa bổ sung từ 300 - 500 mm là lập tức hình thành lũ lớn.
Theo Cục Khí tượng thủy văn, năm 2025, tình hình lũ lụt nghiêm trọng đã xảy ra trên cả nước. Năm 2025 là năm đầu tiên ghi nhận lũ đặc biệt lớn, lũ lịch sử xảy ra ở trên 20 sông trải dài cả Bắc Bộ, Trung Bộ, cao nguyên Trung Bộ và hạ lưu sông Cửu Long.
Với lượng mưa kỷ lục, lũ hình thành không chỉ lớn mà đặc biệt lớn, thậm chí là lũ lịch sử. Theo Cục Khí tượng thủy văn, vào thời điểm cuối tháng 11.2025, lũ đồng thời phá kỷ lục trên 3 - 5 lưu vực sông, từ tỉnh Quảng Trị đến Khánh Hòa và Lâm Đồng. Đây là hiện tượng cực kỳ hiếm, gần như chưa từng xuất hiện trong hơn 50 năm quan trắc và không thuộc “mức lũ tính toán thông thường”. Trên sông Ba, đỉnh lũ đo được tại trạm Củng Sơn vào lúc 1 giờ sáng ngày 20.11.2025 đạt 4.099 cm, vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1993 (3.990 cm) tới 109 cm và trên mức báo động 3 (3.450 cm) tới hơn 6 m.
10 giờ ngày 22.11.2025, khu vực "rốn lũ" xã Hòa Thịnh nằm ở hạ du sông Ba vẫn chìm trong biển nước sau trận lũ lịch sử 16 - 21.11.2025
ẢNH: T.N
Với đỉnh lũ lịch sử và mang tính cực đoan trong 50 năm, tổng lượng nước lũ đổ về hồ sông Ba Hạ trong 5 ngày ước tính lên tới 3 tỉ m3 - lượng nước đủ để toàn bộ diện tích 6.772 km2 của TP.HCM ngập sâu gần nửa mét. Với dung tích điều tiết lũ tối đa chỉ 165,9 triệu m3, ngay cả khi hạ mực nước hồ về mực nước chết trước khi lũ về, hồ thủy điện Sông Ba Hạ chỉ giữ được 5,5% tổng lượng nước lũ đổ về - tức chỉ 1/20 lượng nước lũ.
Nếu tính tổng dung tích phòng lũ của cả 5 hồ thủy điện, thủy lợi trên sông Ba (hồ thuỷ điện An Khê - Ka Nak, Krông H’năng, Sông Ba Hạ, Sông Hinh và hồ thuỷ lợi Ayun Hạ), cũng chỉ trữ được hơn 17%, tức chưa tới 1/5 tổng lượng nước đổ về.
Bên cạnh dung tích cắt, giảm lũ hạn chế của các hồ thủy điện, thủy lợi, do đặc thù địa hình ngắn, dốc, các tỉnh khu vực miền Trung như Đắk Lắk gần như không có hệ thống đê ngăn lũ. Khu vực đồng bằng Tuy Hòa luôn ngập khi lũ lớn đổ về. Cơ chế thoát lũ chủ yếu của khu vực này là dựa vào hành lang thoát lũ tự nhiên ra các cửa biển, kết hợp vận hành điều tiết liên hồ chứa thủy điện ở thượng nguồn.
Vì vậy, sự tàn phá của mưa lũ cực đoan, trái quy luật và vượt lịch sử trở nên nặng nề hơn khi việc vận hành ứng phó bị bó cứng bởi quy trình.
Theo quy trình vận hành liên hồ chứa trên sông Ba tại Quyết định 878, vào thời điểm tích nước cuối mùa lũ (từ 15.11 - 15.12 hàng năm), mực nước đón lũ của hồ thủy điện Sông Ba Hạ không được thấp hơn 103 m (thay vì 102 m như vận hành đón lũ thông thường).
Quy trình cũng quy định rõ, việc vận hành giảm lũ hạ du chỉ được thực hiện khi mực nước ở hạ du vượt báo động 2 và tiến sát báo động 3, song phải đảm bảo mực nước hồ không được vượt mực nước dâng bình thường là 105 m. Khi mực nước hồ lên tới mức này, nhà máy thủy điện sẽ xả tương đương lưu lượng đến hồ; đồng thời sẵn sàng chuyển sang chế độ vận hành đảm bảo an toàn công trình.
Theo quy trình này, vào ngày 15.11.2025, chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk không thể yêu cầu thủy điện sông Ba Hạ đưa mực nước đón lũ về 102 m, giúp tăng thêm hàng chục triệu m3 dung tích hữu ích để giảm lũ. Tương tự, quyết định việc đưa mực nước hồ lên cao hơn 105 m để cắt lũ, chỉ được chủ tịch UBND tỉnh quyết định trong tình huống bất thường, với các ngưỡng “cứng” về mức độ ngập ở hạ du. Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Trương Công Thái khẳng định, quy trình vận hành xả lũ đã quy định rất cụ thể với từng mực nước, không thể “tùy tiện” quyết định.
"Khoảng trống" thông tin
Với các thủy điện nhỏ như ở thủy điện Sông Mã 3, vấn đề không chỉ nằm ở mưa lũ cực đoan hay quy trình mà ở khoảng trống thông tin.
Theo ông Phạm Hồng Thủy, Phó giám đốc Công ty CP Đầu tư - xây dựng Đông Á (chủ đầu tư nhà máy thủy điện Sông Mã 3), trước khi nhà máy tăng lưu lượng xả lũ vào 5 giờ ngày 1.8, do tình huống khẩn cấp, từ 4 giờ 28 phút, nhân viên nhà máy thủy điện đã gọi điện báo trực tiếp cho lãnh đạo các xã Mường Luân, Tìa Dình và 2 nhà máy thủy điện hạ du (Mường Luân 1 và Mường Luân 2); đồng thời hú còi cảnh báo cho người dân hạ du trước từ 3 - 5 phút.
Đêm chạy lũ kinh hoàng dưới chân thủy điện
Tuy nhiên, theo Trưởng bản Lò Văn Ư, từ trước thời điểm đó, nhiều nhà dân, đường sá đã ngập sâu trong nước lũ. Trong đêm tối, điện mất, thông tin không có, anh Ư cùng thanh niên trong bản phải lội qua dòng nước lũ, đi từng nhà gọi cửa, đánh thức người dân chạy lũ… Thủy điện xả lũ và thông báo đúng quy trình, song thực tế người dân vẫn không kịp trở tay với lũ.
“Đứt gãy” thông tin khi thủy điện xả lũ không chỉ gây thiệt hại cho người dân ở hạ du thuộc tỉnh Điện Biên. Tại tỉnh Sơn La, 11 xã ở hạ lưu sông Mã cũng bị tàn phá nặng nề trong trận lũ đầu tháng 8.2025. Lũ quét cũng khiến 12 bản tại Mường Lầm và Bó Sinh bị cô lập; hệ thống giao thông, thủy lợi, điện lực, viễn thông, nhà ở, nông nghiệp bị thiệt hại nặng nề.
Ông Lê Sĩ Tuyến, Phó chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và Tài nguyên nước (Sở Nông nghiệp - Môi trường Sơn La), xác nhận, tại thời nước sông Mã dâng cao nhất, "Sơn La không mưa", lũ hoàn toàn đến từ các lưu vực thượng nguồn. Tuy nhiên, thời điểm đó, khi các thủy điện ở thượng nguồn Điện Biên xả lũ, tỉnh Sơn La "không nhận được thông tin chính thức nào". Ông chỉ biết qua trao đổi cá nhân giữa những người quen biết trong nhóm phòng chống thiên tai 2 tỉnh. Sau trận lũ, Sơn La đã phải đề nghị xây dựng quy chế phối hợp liên tỉnh để ứng phó thiên tai.
Trong khi chờ các khoảng trống thông tin được khỏa lấp, người dân ở hạ du vẫn sống trong nỗi lo trở tay không kịp mỗi khi thủy điện ở thượng nguồn xả lũ. “Thời điểm ấy, nếu có thông báo sớm, chúng tôi đã kịp ứng phó. Đằng này mất điện, không có thông tin, cả bản chỉ còn cách chạy”, Trưởng bản Pá Vạt Lò Văn Ư nói, giọng như nghẹn lại.
Thủy điện nhỏ phát triển ồ ạt gây nhiều hệ lụy
Trên hành trình ngược sông Mã từ Sơn La lên Điện Biên, chúng tôi đã chứng kiến hệ thống nhà máy thủy điện nhỏ dày đặc. Có những đoạn sông chưa tới 10 km nhưng phải "cõng" tới 3 nhà máy thủy điện.
Việt Nam là một trong các quốc gia phát phát triển thủy điện nhỏ mạnh nhất khu vực Đông Nam Á. Từ năm 2003, khi các nhà đầu tư tư nhân tham gia đầu tư, thủy điện nhỏ đã có giai đoạn phát triển ồ ạt, đặc biệt tại khu vực miền núi phía bắc. Trong số gần 400 nhà máy thủy điện đang hoạt động, gần 300 nhà máy là thủy điện nhỏ (dưới 30 MW).
Theo quy định hiện hành, việc phát triển thủy điện nhỏ hầu hết do các địa phương quy hoạch và phê duyệt. Sau hơn 2 thập niên phát triển, các nhà máy thủy điện nhỏ không chỉ cung cấp điện cho các khu vực miền núi mà còn đóng góp vào kinh tế địa phương. Có nơi thủy điện đóng góp tới 50% GDP của địa phương.
Dù đóng góp về kinh tế, việc phát triển thủy điện nhỏ một cách ồ ạt để lại nhiều hệ lụy về môi trường, xã hội. Diện tích lòng hồ chiếm dụng trực tiếp tuy nhỏ (chỉ từ 1 - 2 km²), nhưng quá trình làm đường giao thông phục vụ thi công đã cắt xẻ sâu vào các vùng lõi rừng tự nhiên.
Trong quá trình vận hành, các đập nhỏ và dày đặc làm phân mảnh sông, thay đổi dòng chảy tự nhiên, ảnh hưởng tưới tiêu và đa dạng sinh học. Tình trạng vận hành sai quy trình hay xả lũ khẩn cấp thiếu cảnh báo gây hậu quả nặng nề cho hạ du đều từng xảy ra...
Trả lời Thanh Niên, Bộ Công thương cho hay, thời gian qua, từ khâu quy hoạch, bộ này đã đề nghị UBND các tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn đánh giá kỹ lưỡng các tác động, ảnh hưởng của nó đến môi trường - xã hội nhằm quản lý chặt chẽ, không để phát triển một cách tràn lan thủy điện nhỏ.
Từ năm 2013, thực hiện Nghị quyết 62 năm 2013 của Quốc hội, Bộ Công thương đã phối hợp, chỉ đạo địa phương rà soát, loại bỏ gần 500 dự án thủy điện nhỏ do các địa phương đề xuất. Tuy nhiên, với gần 300 nhà máy thủy điện nhỏ đang hoạt động, những hệ lụy từ thủy điện nhỏ vẫn là vấn đề hiện hữu.
Ngay tại kỳ họp cuối năm 2025, nhiều đại biểu Quốc hội khi đó đã kiến nghị cần phải rà soát toàn bộ hệ thống thủy điện nhỏ cũng như quy trình xả lũ của thủy điện. "Phải rà soát lại toàn bộ hệ thống thủy điện nhỏ, đánh giá lại quy trình xả lũ để tránh tình trạng quy trình thì đúng nhưng hậu quả rất nặng nề", đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) nói tại Quốc hội.
(còn tiếp)
Bài 2: 'Bài toán' khó vận hành hồ chứa thủy điện
Nội dung: Đình Huy - Phan Hậu - Tư An



Bình luận (0)