"Kỳ tích phát triển" của thế giới
Ngày 1.8, The Borgen Project, tổ chức phi lợi nhuận của Mỹ, nhận định tăng trưởng kinh tế ở VN đã giúp hàng triệu người thoát nghèo trong nhiều thập niên qua. Khi thu nhập hộ gia đình tăng lên và tầng lớp trung lưu của đất nước mở rộng, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tiếp tục tăng. VN đã giảm tỷ lệ dân số sống trong hoàn cảnh khó khăn từ hơn 70% vào đầu những năm 1990 xuống còn dưới 1% trong những năm gần đây. Đây là thành tựu được công nhận rộng rãi là một trong những "kỳ tích phát triển" của thế giới. Bên cạnh đó, tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ, phát triển công nghiệp và đầu tư vào giáo dục đã góp phần nâng cao mức sống trên khắp cả nước. Khi ngày càng nhiều hộ gia đình VN có sức mua cao hơn, các doanh nghiệp (DN) trên toàn thế giới cũng được hưởng lợi từ một thị trường tiêu dùng lớn hơn.


Thu nhập người Việt tăng cao cùng sự phát triển kinh tế của đất nước
ẢNH: NHẬT THỊNH
Đáng chú ý, tầng lớp trung lưu của VN đã phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước. Thu nhập tăng cao đã làm tăng nhu cầu đối với hàng tiêu dùng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, sản phẩm công nghệ và cơ hội giáo dục. Qua đó, VN đang chuyển từ một nền kinh tế thu nhập thấp thành một thị trường tiêu dùng ngày càng quan trọng. Từ góc độ rộng hơn, sự tiến bộ của VN trong việc giảm nghèo cho thấy phát triển kinh tế có thể tạo ra lợi ích chung cho các quốc gia trên thế giới. Thu nhập tăng lên đã cải thiện mức sống cho hàng triệu người dân VN, đồng thời mở ra những thị trường mới cho các DN quốc tế.
Nhận định trên cũng đồng nhất với các thống kê gần đây về thu nhập liên tục gia tăng của người Việt. Đơn cử, khảo sát mức sống dân cư năm 2025 do Cục Thống kê công bố đầu tháng 7 cho thấy thu nhập bình quân mỗi tháng của người dân năm qua đạt 6 triệu đồng (theo giá hiện hành), cao hơn 10,9% so với năm 2024 và cao hơn tốc độ tăng thu nhập năm 2024 so với năm 2023 (9,1%). Đó cũng là cơ sở để hồi đầu tháng 7 vừa rồi, Ngân hàng Thế giới (WB) chính thức nâng VN từ nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp lên nhóm thu nhập trung bình cao. Cụ thể, tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người của VN tăng từ 4.490 USD năm 2024 lên 4.970 USD trong năm 2025. Mức thu nhập này vượt ngưỡng 4.636 USD - tiêu chí để được xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao theo phân loại mới của WB.

Việt Nam nay được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao
ẢNH: NHẬT THỊNH
Theo WB, VN được nâng hạng nhờ duy trì tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu tích cực. Trong hai năm 2024-2025, kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 15%, đồng thời GDP lần lượt đạt mức tăng trưởng 7% và 8%. Trong giai đoạn 2021-2025, GNI của VN tăng trung bình khoảng 10% mỗi năm. Các chuyên gia của WB đánh giá đây là "một trong những mức tăng trưởng bền vững mạnh nhất khu vực". Việc WB chính thức xếp VN vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao không chỉ là sự ghi nhận đối với quy mô và năng lực của nền kinh tế, mà còn đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển.
TS Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu chính sách (Đại học VinUni), phân tích con đường tăng trưởng của VN khác biệt với nhiều nước. Đây là tăng trưởng bao trùm và là một lựa chọn có chủ đích của VN. Trong giai đoạn 2010-2020, VN đã giúp hơn 10 triệu người thoát nghèo, kéo tỷ lệ nghèo (chuẩn thu nhập 3,20 USD/ngày) từ 16,8% xuống còn 5%. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều cũng giảm mạnh từ 4,2% vào năm 2022 xuống còn 1,3% vào năm 2025. Song song đó, tầng lớp trung lưu tăng nhanh từ 6,8 triệu (2011) lên 19,5 triệu người (2019) và dự báo sẽ chiếm 50 - 55% dân số vào năm 2030. GNI bình quân đầu người tăng từ dưới 700 USD (1986) lên mức 4.970 USD, giúp VN chính thức bước vào nhóm thu nhập trung bình cao từ ngày 1.7.

Thu nhập người dân gia tăng mở ra cơ hội thu hút mạnh mẽ thương mại và đầu tư nước ngoài
ẢNH: Phạm Quang Vinh
Đáng chú ý, tăng trưởng của VN trái với lý thuyết Kuznets (bất bình đẳng sẽ bùng nổ khi tăng trưởng nhanh) khi hệ số Gini (thể hiện sự bất bình đẳng) của VN gần như đi ngang quanh mức 36,15 trong suốt 30 năm qua. Điều này cho thấy kinh tế tăng trưởng nhưng bất bình đẳng giàu nghèo không tăng theo như đã xảy ra ở nhiều nước. Ví dụ, Brazil có mức bất bình đẳng gốc rất cao (Gini 63,2 năm 1989) nên phải dùng an sinh xã hội để tái phân phối ở đầu ra. Quá trình này tốn kém, phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế và hệ số Gini hiện tại (50,3) vẫn cao hơn VN rất nhiều.

Thu nhập người Việt tăng cao, mở ra cơ hội thu hút mạnh mẽ thương mại và đầu tư nước ngoài
ẢNH: DẠ THẢO
Ông Nguyễn Tú Anh nhấn mạnh: Sự bình đẳng của VN không đến từ việc tái phân phối "nhỏ giọt" sau tăng trưởng, mà được cài sẵn vào đầu vào của nền kinh tế qua 4 trụ cột. Thứ nhất, tài sản phân tán từ đầu khi các chính sách cải cách (Khoán 10, luật Đất đai 1993) đã chia đều quyền sử dụng đất cho nông dân ngay trước thềm Đổi mới, giúp người nghèo có sẵn tư liệu sản xuất. Thứ hai, tăng trưởng thâm dụng lao động với dòng vốn FDI hướng xuất khẩu tạo ra hàng triệu việc làm, làm tăng giá trị sức lao động - tài sản duy nhất mà người nghèo sở hữu. Thứ ba, việc phổ cập giáo dục cơ bản và y tế giúp người nghèo có đủ sức khỏe và năng lực để tiếp nhận các cơ hội việc làm mới. Cuối cùng là nhà nước đầu tư có địa chỉ: ngân sách được tập trung vào việc đưa điện, đường, trường, trạm và các chương trình mục tiêu quốc gia đến tận vùng sâu vùng xa, giúp kết nối người nghèo với thị trường.
Mở cơ hội thu hút đầu tư, thương mại
TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương TP.HCM, cho rằng nhận định của Borgen Project về tăng trưởng của kinh tế và thu nhập của người Việt phản ánh một chuyển biến rất đáng chú ý của nền kinh tế. Chúng ta không chỉ đang tăng trưởng nhanh hơn, mà chất lượng và vị thế của nền kinh tế cũng đang từng bước thay đổi. Từ một quốc gia nghèo, VN đã trở thành một nền kinh tế có quy mô đáng kể, có độ mở rất cao, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu và hiện đã chính thức bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Ý nghĩa lớn nhất của quá trình này nằm ở hai chuyển biến: một là sức hấp dẫn của VN đối với thương mại và đầu tư quốc tế đang thay đổi; hai là tăng trưởng kinh tế đang chứng minh khả năng tạo ra lợi ích không chỉ cho VN mà cho cả những quốc gia có quan hệ thương mại, đầu tư với VN.
Đặc biệt, VN đang hình thành thêm một lợi thế rất quan trọng - một thị trường hơn 100 triệu dân với thu nhập và sức mua ngày càng tăng. Đây là sự thay đổi có ý nghĩa quan trọng. Khi thu nhập tăng lên, người dân không chỉ tiêu dùng nhiều hơn mà cơ cấu tiêu dùng cũng thay đổi. Một gia đình khi thu nhập còn thấp sẽ tập trung phần lớn chi tiêu vào những nhu cầu cơ bản. Nhưng khi bước vào tầng lớp trung lưu, nhu cầu bắt đầu chuyển sang nhà ở tốt hơn, thực phẩm chất lượng cao hơn, công nghệ, ô tô, giáo dục, y tế, bảo hiểm, tài chính, du lịch, giải trí và các dịch vụ nâng cao chất lượng cuộc sống. Đó chính là quá trình biến tăng trưởng thu nhập thành tăng trưởng thị trường. Chính điều này sẽ làm thay đổi cách các tập đoàn quốc tế nhìn vào VN.
"Trước đây, một DN nước ngoài có thể đến VN chủ yếu với mục tiêu sản xuất để xuất khẩu ra thế giới. Khi quy mô thị trường nội địa đủ lớn và sức mua đủ cao, họ có thêm một lý do rất quan trọng: đầu tư tại VN để phục vụ chính người tiêu dùng trong nước. Khi hai động lực này kết hợp với nhau, chúng ta sẽ vừa là một cứ điểm sản xuất, vừa là một thị trường tiêu dùng. Sức hấp dẫn đối với đầu tư quốc tế vì vậy lớn hơn đáng kể", TS Trần Việt Anh chỉ rõ. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để VN nâng cấp chất lượng thu hút FDI. Trong giai đoạn trước, FDI tập trung nhiều vào sản xuất, gia công và xuất khẩu. Trong giai đoạn mới, cùng với sự mở rộng của tầng lớp trung lưu, VN có điều kiện thu hút thêm các dòng vốn trong công nghệ, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), nghiên cứu - phát triển (R&D), y tế, giáo dục, tài chính, thương mại điện tử, logistics, năng lượng, bán lẻ và các ngành dịch vụ hiện đại. "Đây mới là giá trị rất lớn của một nền kinh tế vừa có năng lực sản xuất, vừa có thị trường đủ lớn. VN vì vậy đang có cơ hội chuyển dần từ lợi thế "chi phí cạnh tranh" sang lợi thế "quy mô thị trường", và bước tiếp theo phải là lợi thế về năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực", ông Việt Anh nêu quan điểm.
Có cái nhìn tương tự, trang Money Week (Anh) ngày 5.8 nhận định VN đang nổi lên như một điểm đến đầu tư hấp dẫn và mang tính đa dạng hóa cao nhờ sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, định giá thị trường hợp lý và làn sóng cải cách của Chính phủ sâu rộng. Sự kiện được nâng hạng lên thị trường mới nổi sắp tới được kỳ vọng sẽ mở ra cánh cửa đón dòng vốn ngoại khổng lồ, tạo động lực bứt phá bền vững cho thị trường chứng khoán nước này. VN đang trở thành một trong những câu chuyện tăng trưởng đáng chú ý đối với giới đầu tư: nền kinh tế tăng trưởng 8% năm 2025, đứng thứ 13 thế giới; thị trường chứng khoán có cơ cấu đa dạng hơn nhiều nước Đông Nam Á, không phụ thuộc quá lớn vào các DN phần cứng AI mà có tỷ trọng đáng kể ở các ngành truyền thống, giúp tăng khả năng đa dạng hóa danh mục. Tăng trưởng mạnh cùng các chính sách cải cách của Chính phủ là những yếu tố khiến VN trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn.
Sau 3 thập niên phát triển thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu năng động của châu Á, VN đang bước sang giai đoạn tăng trưởng mới, với động lực không chỉ đến từ xuất khẩu mà còn từ tiêu dùng trong nước, thu nhập hộ gia đình gia tăng, sự phát triển của thị trường tài chính và ứng dụng công nghệ, nhờ những cải cách của Chính phủ. Các cải cách này tập trung vào phát triển khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy đầu tư cho R&D, thu hút vốn FDI và khuyến khích tinh thần khởi nghiệp.
Giảm nghèo không chỉ tạo ra lợi ích xã hội mà còn tạo ra thị trường
Ở góc độ rộng hơn, theo The Borgen Project, sự tiến bộ của VN trong việc giảm nghèo cho thấy phát triển kinh tế có thể tạo ra lợi ích chung cho các quốc gia trên thế giới. Thu nhập tăng lên đã cải thiện mức sống cho hàng triệu người dân VN, đồng thời mở ra những thị trường mới cho các DN quốc tế.
TS Trần Việt Anh phân tích chúng ta thường nhìn giảm nghèo dưới góc độ chính sách xã hội. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Giảm nghèo đồng thời là một quá trình tạo ra người tiêu dùng mới cho nền kinh tế. Một người thoát nghèo có nghĩa là một cuộc sống được cải thiện. Nhưng khi hàng triệu người cùng thoát nghèo, ý nghĩa kinh tế lớn hơn rất nhiều. Họ bắt đầu có khả năng mua nhà, mua xe, sử dụng điện thoại thông minh, đi du lịch, đầu tư cho con cái học hành, chăm sóc sức khỏe, sử dụng dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm và nhiều loại hàng hóa, dịch vụ khác. Như vậy, người từng là đối tượng thụ hưởng của quá trình phát triển dần trở thành chủ thể tạo ra tăng trưởng mới. Đây là một trong những vòng tuần hoàn tích cực nhất của phát triển: tăng trưởng tạo việc làm giúp tạo thu nhập; tạo thu nhập giúp giảm nghèo và mở rộng tầng lớp trung lưu; tầng lớp trung lưu tạo sức mua; sức mua tạo thị trường; từ thị trường thu hút đầu tư; rồi đầu tư tiếp tục tạo việc làm và tăng trưởng. Nếu vòng tuần hoàn này được duy trì, tăng trưởng sẽ ngày càng có thêm động lực từ chính bên trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, VN phát triển cũng tạo ra cơ hội cho thế giới. Thu nhập của người Việt tăng lên đồng nghĩa với nhu cầu lớn hơn đối với công nghệ, máy móc, hàng không, giáo dục, y tế, nông sản chất lượng cao, dịch vụ tài chính và nhiều sản phẩm quốc tế khác. Các DN Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu và nhiều nền kinh tế khác vì vậy đều có thể hưởng lợi từ sự phát triển của thị trường VN. Ngược lại, VN nhận được vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, việc làm và khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu. Đó chính là bản chất của phát triển cùng có lợi.
Ở góc nhìn khác, TS Nguyễn Tú Anh nhấn mạnh đến vai trò của tầng lớp trung lưu mới. Đây là nhóm quyết định sức cầu nội địa, nguồn vốn tiết kiệm và góp phần mở rộng thị trường cho cả DN trong nước lẫn khối FDI. Sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu là tài sản chiến lược cho giai đoạn tới, trên bốn phương diện. Một là chuyển trọng tâm của cầu: thị trường hơn 100 triệu dân tạo lớp đệm trước biến động xuất khẩu và nâng cấp tiêu dùng sang dịch vụ, y tế, giáo dục, tài chính. Hai là vốn con người và tiết kiệm trong nước, nền tảng cho thị trường vốn nội địa. Ba là cơ sở thu ngân sách, khi chuyển dần từ thuế gián thu sang thuế thu nhập và thuế tài sản. Bốn là nhu cầu về chất lượng thể chế: tầng lớp trung lưu đòi hỏi pháp quyền, quyền tài sản rõ ràng và dịch vụ công tốt hơn và đây chính là những yếu tố quyết định khả năng vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Dù vậy, ông Tú Anh lưu ý cần thấy mặt còn lại: phần lớn nhóm mới gia nhập tầng lớp trung lưu vẫn nằm sát ngưỡng, và một cú sốc y tế, mất việc làm hay chi phí nhà ở tăng có thể đẩy họ trở lại nhóm thu nhập thấp. Từ đó có thể hình dung để tăng trưởng cao, chất lượng thì VN cần chuyển dịch chính sách: từ tạo việc làm sang nâng cấp việc làm bằng giáo dục nghề, đại học và kỹ năng số; từ an sinh phân mảnh sang hệ thống đa tầng, bao phủ toàn dân; từ thu hẹp bất bình đẳng thu nhập sang thu hẹp bất bình đẳng cơ hội và tài sản; từ dựa vào đầu tư nước ngoài sang liên kết với DN trong nước; và từ tăng trưởng theo số lượng sang tăng trưởng dựa trên năng suất.
Những nền tảng vững chắc cho kinh tế VN tiếp tục tăng trưởng
Trang Aquis Capital (trụ sở tại Thụy Sĩ) phân tích trong nửa đầu năm 2026, dù đối mặt với căng thẳng địa chính trị Trung Đông và biến động thị trường toàn cầu, GDP trong quý 2/2026 của VN vẫn đạt mức tăng trưởng 8,39%, đưa mức tăng trưởng toàn bộ nửa đầu năm lên 8,18% - thuộc nhóm cao nhất thế giới. Điều đặc biệt đáng chú ý không chỉ là tốc độ tăng trưởng mà còn là chất lượng của sự tăng trưởng đó. Không giống như nhiều thị trường mới nổi, động lực tăng trưởng của VN đa dạng, không chỉ dựa vào tốc độ mà còn nhờ vào nhiều trụ cột vững chắc: Sản xuất công nghiệp và chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chính với mức tăng hơn 10%; lĩnh vực dịch vụ, tiêu dùng tư nhân và du lịch tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, trong khi nông nghiệp vẫn là một đóng góp ổn định cho tổng thể tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh các yếu tố cơ bản về kinh tế vĩ mô vững chắc, VN tiếp tục hưởng lợi từ các xu hướng cơ cấu dài hạn và đang ngày càng khẳng định vị thế là trung tâm sản xuất và công nghệ chiến lược trong các chuỗi cung ứng toàn cầu. Dòng vốn FDI mạnh mẽ từ khắp châu Á, kết hợp với chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng nhất quán, tiếp tục hỗ trợ quá trình chuyển đổi này.
Điểm rất hay trong nhận định của Borgen Project là phát triển kinh tế không nhất thiết là một cuộc chơi trong đó một quốc gia được lợi thì quốc gia khác phải chịu thiệt. Ngược lại, khi một quốc gia nghèo trở nên giàu hơn, quốc gia đó đồng thời tạo ra một thị trường mới cho phần còn lại của thế giới. Một VN thịnh vượng hơn không làm thế giới mất đi cơ hội. Trái lại, VN càng phát triển thì khả năng tạo ra cơ hội thương mại, đầu tư và hợp tác cho các đối tác càng lớn.
TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương TP.HCM
Bình luận (0)