Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm

Lịch sử gốm Việt không chỉ được nhào nặn bởi đất và lửa, mà còn lưu giữ tính cách người Việt qua từng triều đại.

Một chiếc ấm men trắng ngà thời Lý, thạp hoa nâu thời Trần, bình tì bà Chu Đậu từ con tàu chìm dưới đáy biển Cù Lao Chàm, chân đèn thời Mạc, đến những tác phẩm của nghệ sĩ gốm hôm nay… đặt cạnh nhau vẫn là đất, lửa, nhưng mỗi thời một phong thái. Theo dấu những hiện vật gốm Việt có thể lần ngược cả một dòng chảy nghìn năm.

Từ khí phách đến thanh cao

Đứng trước chiếc ấm cánh sen gốm hoa nâu thời Lý (1009 - 1225) nhỉnh hơn nắm tay, điều khiến người ta kinh ngạc không hẳn là tuổi đời thiên niên kỷ của nó, mà là vẻ đẹp gần như đối nghịch với sự nhỏ bé ấy. Quanh vai ấm, những cánh sen kép dài, mảnh, hơi vểnh, xếp lớp như đóa hoa vừa hé. Men trắng ngà đã nhuốm màu thời gian, vài chỗ bong để lộ cốt phấn, nhưng cái thanh nhã vẫn còn nguyên.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 1.

Hình tượng cặp đôi Kinnara - Kinnari trong văn hóa Hindu trên gốm thời Lý

ẢNH: PHONG AN

Ngược dòng lịch sử về triều Lý, bối cảnh ra đời chiếc ấm là Đại Cồ Việt ở buổi đầu độc lập sau hơn nghìn năm Bắc thuộc. Đất nước thái bình, đời sống vật chất viên mãn nên các vật dụng từ gốm không chỉ đáp ứng nhu cầu công năng, mà thẩm mỹ cũng ở một giai tầng khác. Gốm Việt bước vào giai đoạn thăng hoa.

Gốm men trắng ngà, men ngọc, hoa nâu hiện diện trên bát, đĩa, ấm, thạp, kỷ phấn và nhiều vật phẩm nhật dụng, tế tự. Hoa sen là đề tài trang trí chủ đạo, bên cạnh hình ảnh quen thuộc khác là lá đề. Trên một số hiện vật còn có rồng gấp khúc đặc trưng thời Lý, chim anh vũ, cặp đôi Kinnara - Kinnari, những hình tượng nói lên sự tổng hợp từ tín ngưỡng (Phật giáo), mỹ cảm bản địa với ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài (Champa).

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 2.

Tước gốm hoa nâu chim anh vũ, thời Lý, hình tượng ẩn dụ cuộc đời tiền kiếp của đức Phật

ẢNH: PHONG AN

Điều đặc biệt là người thợ gốm không sao chép nguyên bản những gì dung nạp lên gốm. Họ biến đổi chúng theo phong cách mới, rất riêng. Rồng trở nên mềm mại nhưng vẫn uy nghi. Sen thanh khiết. Chim anh vũ gợi sự thông tuệ. Những hình tượng khi đưa vào nét gốm tạo nên thế giới thu nhỏ của quyền lực, tín ngưỡng và đời sống tinh thần.

Thế rồi lịch sử chuyển động. Nếu vẻ đẹp thời Lý giống một cánh sen thanh mảnh, đến thời Trần, cốt gốm dày hơn, hình khối lớn hơn. Những đường khắc bớt cầu kỳ, trở nên mạnh và phóng khoáng. Đời sống thực tràn vào gốm qua các đề tài trang trí với chim, cá, hoa lá, muông thú, cảnh săn bắn xuất hiện. Đặc biệt trên những chiếc bình vôi - vật dụng gắn chặt với tục ăn trầu của người Việt - còn có cảnh đấu vật.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 3.

Thạp cánh sen thời Lý, bảo vật quốc gia, hiện ở Bảo tàng Quảng Ninh

ẢNH: PHONG AN

Hai đô vật ghì lấy nhau, thân hình căng lên trong một thế đối kháng. Đấu vật vốn là trò chơi hội làng, nhưng trong thời đại thượng võ, đó còn là nơi tuyển lựa những trai tráng khỏe mạnh. Bởi vậy, cảnh đấu vật trên một chiếc bình vôi không đơn thuần là trang trí. Nó giống một lát cắt đời sống được tôi nung trong lửa: hội hè, làng xóm, sức vóc con người và khí thế của một dân tộc vừa bước qua những cuộc chiến khốc liệt. Từ cánh sen mảnh như thơ của thời Lý đến hai đô vật rắn chắc thời Trần, chỉ vài thế kỷ, gốm đã đổi khác đến kinh ngạc.

Đường ra biển lớn

Câu chuyện ấy nằm dưới đáy biển Cù Lao Chàm. Hơn 500 năm trước, con tàu buôn chở đầy gốm rời bến, hướng ra biển. Không ai biết chính xác nó đã gặp chuyện gì giữa hành trình. Chỉ biết con tàu không cập bến bình an. Nó chìm xuống vùng biển ngoài khơi Hội An, mang theo cả kho hàng nằm im dưới bùn cát nhiều thế kỷ.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 4.

Thạp gốm hoa nâu thời Trần, hình tượng người, chim, hoa được đưa vào trang trí

ẢNH: PHONG AN

Đến những năm 1990, khi dấu tích con tàu được phát hiện, hàng chục vạn hiện vật và mảnh vỡ lần lượt trở lại ánh sáng: Bình tì bà, ấm, hộp, bát, đĩa, lọ nhỏ, tượng người… Nhiều món còn nguyên sắc lam với hoa lá, chim, cá, muông thú, con người, phong cảnh được vẽ bằng những nét bút khoáng đạt. Một tai họa hàng hải lại trở thành "kho lưu trữ" vô giá của lịch sử.

Tàu đắm Cù Lao Chàm góp phần trả lời câu hỏi: Đại Việt cách nay hơn năm thế kỷ đã đứng ở đâu trên bản đồ gốm sứ thế giới? Trong dòng chảy gốm Việt sau thời Bắc thuộc, đến thời Lê sơ, đặc biệt trong thế kỷ 15, gốm Việt bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ. Nếu Lý - Trần để lại dấu ấn với men trắng ngà, men ngọc, hoa nâu, thì một sắc màu khác bắt đầu chiếm lĩnh bề mặt gốm. Đó là hoa lam.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 5.

Bình vôi thời Trần với cảnh đấu vật tạo thành quai bình đầy sinh động

ẢNH: PHONG AN

Trên nền men sáng, người thợ dùng bút vẽ màu lam trực tiếp lên cốt gốm. Có nét thanh mảnh như mực trên giấy, có đường phóng mạnh, sắc lam khi đặc quánh, lúc loãng nhẹ, tạo nên những chuyển động rất khác với kỹ thuật khắc, tỉa của các thời kỳ trước. Chất họa của gốm hoa lam được nhận định là phong phú, đa dạng, biến ảo diệu kỳ so với các dòng gốm khác trên đất Việt.

Hoàn cảnh ra đời của gốm hoa lam đúng thời cơ đặc biệt. Từ cuối thế kỷ 14, nhà Minh thực hiện chính sách hải cấm, hạn chế hoạt động giao thương trên biển. Khi nguồn hàng gốm sứ Trung Hoa ra thị trường bên ngoài bị gián đoạn, khoảng trống thương mại xuất hiện. Các trung tâm gốm khu vực có cơ hội chen chân vào mạng lưới buôn bán quốc tế. Gốm Việt nắm lấy cơ hội ấy.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 6.

Bình gốm hoa lam Chu Đậu, một hiện vật quý hồi hương từ Singapore

ẢNH: PHONG AN

Những lò gốm ở Hải Dương cùng nhiều trung tâm sản xuất khác bước vào một thời kỳ sôi động. Nhu cầu của thương nhân phương xa, kỹ thuật tích lũy từ nhiều thế kỷ và những cuộc giao lưu nghề nghiệp tạo nên một thế hệ sản phẩm mới. Trong đó, Chu Đậu trở thành cái tên tiêu biểu. Điều đáng chú ý là gốm hoa lam Chu Đậu không chỉ đẹp bởi kỹ thuật.

Trên những chiếc bình, ấm, đĩa, hộp còn lại đến hôm nay, người ta bắt gặp cả một thế giới sống động: hoa sen, hoa cúc, chim, cá, hươu, cây cỏ, mây nước, người chèo thuyền, các con linh thú… Những nét bút nhiều khi không quá câu nệ vào khuôn mẫu, thậm chí có vẻ hồn nhiên, nhưng chính sự phóng khoáng ấy tạo nên thần thái rất riêng.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 7.

Mâm bồng gốm Chu Đậu, quý hiếm bởi sự toàn vẹn và kỹ thuật chế tác cao

ẢNH: PHONG AN

Và ở một số tuyệt phẩm, người thợ Đại Việt còn đưa người xem đi xa hơn khỏi làng quê của mình.

Một chiếc bình hoa lam nổi tiếng đang lưu giữ tại Bảo tàng Văn minh châu Á ở Singapore là ví dụ. Trên thân bình xuất hiện hai thủy quái kỳ dị trong tư thế đuổi vờn giữa sóng nước. Hình tượng ấy liên hệ với Makara và Timingila của huyền thoại Hindu.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 8.

Bình gốm Chu Đậu, thời kỳ đỉnh cao gốm Việt ở phong cách trang trí trên gốm

ẢNH: PHONG AN

Makara hiện lên với dáng dữ dằn của kẻ săn mồi. Timingila căng vây giữa đại dương. Những đường lam khi đậm, khi nhạt chạy quanh thân bình khiến cả cuộc truy đuổi tưởng như không ngừng chuyển động. Vì sao hình tượng xa lạ ấy hiện hữu trên gốm cổ Đại Việt? Chính những chuyến tàu buôn là một phần lời giải. Gốm đi ra thế giới, nhưng thế giới cũng đi ngược vào các lò gốm. Thương nhân mang theo đơn hàng, thị hiếu, hình mẫu và câu chuyện từ những vùng đất khác. Người thợ Việt tiếp nhận chúng, rồi bằng tay nghề và cảm quan của mình, biến đổi chúng vào đất và men.

Sau Chu Đậu, gốm Việt không ngừng lại. Thời Mạc xuất hiện những chân đèn, lư hương, đồ thờ mang phong thái riêng. Đến Lê Trung Hưng, những dòng men màu - đặc biệt là xanh rêu, tiếp tục mở thêm một diện mạo khác. Rồi qua các thế kỷ sau, các làng nghề như Bát Tràng, Phù Lãng, Thanh Hà, Châu Ổ, Gò Sành… vẫn đỏ lửa, đưa gốm trở lại gần hơn với nhu cầu thường nhật của đời sống. Đến hôm nay, những vẻ đẹp từng làm rạng danh gốm Việt thời quá vãng được tiếp nối không chỉ ở làng nghề mà còn ở một lớp nghệ sĩ mới, họ bắt đầu đối thoại với người thợ vô danh của nghìn năm trước.

Nguồn mạch tiếp nối

Tiếp nối gốm Việt không có nghĩa là làm lại một chiếc ấm thời Lý, một thạp hoa nâu thời Trần hay cố tạo ra một Chu Đậu thứ hai. Nếu chỉ lặp lại hình dáng cũ, người làm gốm dễ trở thành kẻ… ăn mày di sản. Điều đáng chú ý hơn đang diễn ra trong những xưởng gốm hôm nay là tạo ra ngôn ngữ mới trên nền tảng gốm Việt, khi một lớp họa sĩ, nghệ sĩ tìm về đất để tiếp biến với những gì cha ông để lại.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 9.

Chân đèn thời Mạc, một tạo hình độc đáo của gốm Việt cổ

ẢNH: PHONG AN

Trịnh Vũ Hiếu chọn hoa nâu Lý - Trần làm điểm khởi đầu, rồi hoa lam. Từ một nhà thiết kế nội thất, họa sĩ trừu tượng, chuyển sang gốm, anh mất gần 2 năm thử nghiệm đất, men, lửa. Cốt gốm lấy từ Bát Tràng, men sử dụng những nguyên liệu tự nhiên như cao lanh, đất đá, vỏ sò… nhưng mục đích không phải phục chế nguyên bản màu men nghìn năm trước. Hiếu tìm lại cái duyên của hoa nâu, hoa lam rồi đưa lên đó tử đằng, anh túc, diên vỹ, lan, dã quỳ… bằng nét khắc và lối phủ men khoáng đạt. "Điều tôi muốn là phục dựng lại nét duyên của hoa nâu, hoa lam ở góc nhìn hiện đại", anh nói.

Họa sĩ Bùi Quốc Khánh lại bước vào gốm bằng một ngả hoàn toàn khác là tìm đến ký ức của tò he. Anh bóp, nặn, vê, vuốt đất, gần với cách người thợ dân gian dựng con giống, rồi đẩy chúng sang một thế giới rực rỡ, mạnh về hình khối và màu sắc. Trâu, thuyền rồng, rồng - phượng, người chèo thuyền… đi vào tác phẩm với tinh thần Pop-Art, vừa quen vừa lạ. Khánh lý giải rằng anh muốn thông qua gốm "tôn vinh giá trị nghề thủ công Việt Nam", để khi nhìn vào tác phẩm, người xem vẫn nhận ra phía sau đó là chất Việt, nét Việt.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 10.

Lư hương với màu men xanh rêu đặc trưng của thời Lê Trung Hưng

ẢNH: PHONG AN

Cũng đi tìm căn cốt ấy, nhưng Vũ Đức Hiếu chọn con đường gắn với di sản. Nhiều năm nghiên cứu văn hóa Mường giúp anh đưa ký ức về vùng đất, con người và đời sống bản địa vào gốm. Với "gốm Mường", di sản không còn nhất thiết là một màu men hay kiểu dáng cổ, mà có thể là ký ức văn hóa được chuyển hóa thành hình khối của gốm.

Ba nghệ sĩ, ba lối đi: một người tìm về hoa nâu, hoa lam; một người bắt đầu từ tò he; một người trở lại với văn hóa Mường. Họ không sao chép quá khứ, nhưng đều gặp nhau ở một điểm: Tìm trong di sản chất liệu tạo nên ngôn ngữ gốm Việt đương đại.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 11.

Nghệ sĩ gốm Trịnh Vũ Hiếu tại xưởng chế tác

ẢNH: PHONG AN

Nhìn lại nghìn năm, đó cũng chính là cách gốm Việt từng tồn tại. Thời Lý tiếp nhận rồi biến đổi những ảnh hưởng bên ngoài; thời Trần đưa khí phách và đời sống vào đất; Chu Đậu theo thương thuyền gặp thế giới tạo nên một thời hoa lam rực rỡ.

Hơn nghìn năm trôi qua, những người thợ làm nên nhiều tuyệt phẩm đã thành dĩ vãng, nhiều màu men đã thất truyền, nhiều lò gốm đã tắt. Nhưng đất vẫn còn, lửa vẫn cháy. Và mỗi khi người nghệ sĩ hôm nay đặt tay lên đất để tạo nên hình hài mới mà vẫn biết mình đến từ đâu, nguồn mạch gốm Việt lại được nối dài.

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 12.

Họa sĩ Bùi Quốc Khánh và dòng gốm từ cảm hứng tò he

ẢNH: PHONG AN

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 13.

Vũ Đức Hiếu và dòng “gốm Mường” mang ngôn ngữ tạo hình đầy tính đương đại

ẢNH: PHONG AN

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 14.

Một tác phẩm “gốm Mường” của nghệ sĩ Vũ Đức Hiếu

ẢNH: PHONG AN

Hồn đất Việt qua nghìn năm sử gốm- Ảnh 15.

Âm hưởng dân gian trong tạo hình gốm đương đại của Trịnh Vũ Hiếu

ẢNH: PHONG AN

 

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.